Bệnh đau nửa đầu thành cơn theo chu kỳ, xuất hiện cơn đau ở một thời điểm nhất định, thường kèm theo các triệu chứng như sợ ánh sáng, nôn và đau giảm đi khi đi ngủ hoặc ở trong bóng tối. Vùng đau liên quan với vùng phấn bố mạch máu chứ không có liên hệ với vùng phân bố thần kinh. Ngoài cơn đau, bệnh nhân cảm thấy bình thường.
Bệnh đau nửa đầu thường gặp ở phụ nữ, cơn đau đầu tiên thường xảy ra ở độ tuổi dậy thì, cơn đau có thể chỉ xuất hiện trong vài năm, nhưng có khi là cả đời. Bệnh có thể nặng hơn do các yếu tố là: Các chấn thương tinh thần, chấn thương sọ não, có các bệnh thuộc hệ động mạch cảnh ngoài.

benh-dau-nua-dau
Trước khi lên cơn từ vài giờ đến vài ngày, bệnh nhân thường có một số tiền triệu chứng như thay đổi tính tình, rối loạn thần kinh, có thể có cơn trầm cảm. Giai đoạn đầu của bệnh xuất hiện một vài điểm chói sáng, rối loạn thị giác, có thể thấy màu sắc chói lọi trước khi đau đầu. Khi đau đầu thái dương hoặc vùng trán, cơn đau có thể lan sang bên đối diện, đau theo nhịp mạch. Cơn đau kéo dài khoảng 10-24 giờ, sau đó bệnh nhân giảm đau và trở lại bình thường.
Theo Đông y, đau nửa đầu thuốc phạm trù đầu thống.
Nguyên nhân bệnh đau đầu rất nhiều, y học cổ truyền thường chia làm 2 loại: đau đầu do ngoại cảm và đau đầu do nội thương. Đau đầu do ngoại cảm thường do cảm nhiễm các ngoại tà như phong, hàn, thấp nhiệt. Đau đầu do nội thương phần nhiều do biến đổi bệnh của 3 tạng: tỳ, can, thận cũng như khí huyết mất điều hòa. Tuy nhiên, đầu thống thuộc phạm trù nội thương nhưng do sự biến đổi của 2 tạng can, tỳ là chính.
Trong trường hợp do can, phần nhiều là do can khí bất hòa, uất mà hóa hỏa, can mất điều đạt dẫn đến đau đầu. Cũng có khi do hỏa thịnh đốt âm, dẫn tới can thận âm suy, can dương vượng mà đau đầu. Đầu thống thường lệch ở một bên của đầu nên thuộc Túc thiếu dương đởm kinh, cạn đởm là biểu lý của nhau. Nếu đầu thống kéo dài dẫn đến đỉnh đầu, càng thuộc bệnh của kinh can, lâu ngày thấy có triệu chứng huyết ứ.
Trường hợp phát bệnh ở tỳ, phần nhiều do cơ thể hư sau khi bị bệnh hoặc do lao động mệt mỏi tổn thương tỳ, nguồn của khí huyết sinh hóa không đầy đủ, dẫn tới khí huyết suy hư, hoặc tỳ vị mất kiện vận, đàm thấp ở trong, trọc âm nhiều lên, ngăn chặn thanh dương, rồi phát sinh đau đầu.
Đông y chữa bệnh đau nửa đầu theo các thể:
1.    Thể can dương vượng:
Triệu chứng: Đau đầu mà choáng váng, tính bứt rứt dễ cáu, đêm năm không yên, đau sườn, miệng đắng, mặt đỏ, lưỡi đỏ rêu vàng mỏng, mạch huyền.
Phép điều trị: Bình can tiềm dương
Bài thuốc:
Thiên ma 6g, Xuyên khung 15g, Sài hồ 6g, Cẩu kỷ tử 9g, Câu đằng 12g, Ngưu tất 12g, Sinh địa 12g, Trân châu mẫu 30g, Thạch quyết minh 30g, Cam thảo 3g, Long đởm thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang.
2.    Thể đàm trọc
Triệu chứng: Đau đầu lơ mơ, ngực bụng bí, nôn ra nước chua đàm rãi, rêu trắng nhớt, mạch huyền hoạt.
Phép điều trị: Kiện tỳ hóa đàm.
Bài thuốc: Bán hạ 9g, Màn kinh tử 9g, Bạch truật 9g, Đởm nam tinh 9g, Phục linh 9g, Xuyên khung 12g, Cam thảo 6g, Trần bì 6g, Thiên ma 6g, Tế tân 3g. Sắc uống ngày một thang.
3.    Thể ứ huyết
Triệu chứng: Bệnh chứng đau đầu lâu không khỏi, cố định chỗ đau, không di chuyển, như đùi đâm hoặc có tiền sử ngoại thương phần đầu, lưỡi tím hoặc có ban ứ, rêu trắng mỏng, mạch tế sáp.
Phép điều trị: Hoạt huyết hóa ứ.
Bài thuốc: Ngưu tất 30g, Bạch chỉ 9g, Diên hồ 30g, Cát căn 30g, Địa long 15g, Tế tân 3g, Xuyên khung 30g. Sắc uống ngày 1 thang.