Loạn nhịp tim thường được báo hiệu bởi tim đập mạnh hay đập nhanh, đặc biệt khi cơn xảy ra đột ngột mà không hề có xáo- trộn tình cảm hay gắng sức gì trước đó. Thuật ngữ y khoa dành cho loại tim đập nhanh mạnh, hoặc nhịp tim đập hẫng là hồi hộp đánh trống ngực. Bệnh nhân bị loạn nhịp tim thường trải qua cơn hồi hộp đánh trống ngực nhưng bởi vì giảm cung cấp oxy cho não nên bệnh nhân cũng thường hay bị mệt, choáng váng thậm chí bị ngất.

Các dạng rối loạn nhịp tim

Các phương tiện dùng để chẩn đoán rối loạn nhịp tim

Một khi nghi ngờ bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim thì việc làm đầu tiên của thầy thuốc lâm sàng là phải xác định bản chất của loại nhịp tim không đều bằng cách đo điện tim. Bởi vì loạn nhịp tim có thể xuất hiện rồi tự biến mất và thường không có biểu hiện khi thầy thuốc khám bệnh nên người ta đã tiến hành đo điện tim liên tục trong 24 giờ bằng một loại máy nhỏ, nhẹ là máy Holter.

Dụng cụ này sẽ ghi lại hình ảnh điện tim được phân tích trên máy vi tính trong suốt thời gian 24 giờ. Một số rối loạn nhịp tim phức tạp có thể được chẩn đoán dựa trên các phân tích về điện sinh lý được thực hiện bằng cách đưa một điện cực nhỏ qua đường tĩnh mạch và cắm trực tiếp vào tim. Để được trị bệnh bằng  thủ thuật này bệnh nhân cần phải nhập viện và phải do các chuyên gia về tim mạch được đào tạo đặc biệt thực hiện.

>>> Xem thêm: Bài thuốc Đông y chữa bệnh đau nửa đầuMất ngủ – Triệu chứng, nguyên nhân và điều trị mất ngủ

Rối loạn nhịp được điều trị như thế nào?

Đa số các rối loạn nhịp đến khám thầy thuốc đều có thể được điều trị bằng các thuốc chống loạn nhịp, phổ biến nhất là quinidin, digoxin, procainamid, và disopyramid. Propranolol (thuốc chẹn bêta) và verapamil (thuốc chẹn kênh canxi) cũng thường sử dụng. Tất cả các thuốc này tác dụng bằng cách điều chính các rối loạn về điện học gây ra nhịp không đều.

Máy tạo nhịp vĩnh viễn có thể điều chỉnh loạn nhịp chậm do nghẽn dẫn truyền nhĩ thất bằng cách tác động vào nút xoang nhĩ để khởi xướng những hoạt động co thắt đều đặn của thất. Một máy tạo nhịp có kích thước khoảng 7,5 cm2 và được cấy vào dưới da ngay dưới xương đòn. Mỗi một máy tạo nhịp bao gồm một pin, một hay hai điện cực mà đầu của điện cực được cắm vào tâm nhĩ phải.

Máy tạo nhịp tim

Trong trường hợp rung thất, -người ta dùng một loại máy sốc điện đặt ở ngực bệnh nhân và sau đó nạp điện và phóng điện đi ngang qua tim nhằm đưa rung thất về nhịp xoang bình thường. Phương pháp này có thể cứu sống bệnh nhân nếu được thực hiện khi rung that chỉ mới xảy ra khoảng 3 phút và có thể thực hiện trong khoa cấp cứu bởi các thầy thuốc lâm sàng trong khoa cấp cứu hay do những nhân viên y tế trong xe cứu thương hay thậm chí tại nhà bệnh nhân.

Có thể ngăn ngừa rối loạn nhịp bằng cách nào?

Cách tốt nhất để có thể ngăn ngừa một số rối loạn nhịp là phải làm giảm các yếu tố nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Vì cà phê, rượu, và thuốc lá cũng như chế độ ăn quá ít năng lượng có thể gây ra một số rối loạn nhịp tim nên có thể điều chỉnh bằng cách thay đổi lối sống.

Các nghiên cứu gần đây đã đề xuất rằng trong khi tình trạng căng thẳng và xúc động mạnh có thể góp phần gây ra rối loạn nhịp thì có lẽ bản thân xúc động đơn thuần không có mối liên hệ nhân quả trực tiếp đến tỉ lệ rối loạn nhịp đe dọa tính mạng.
Có nhiều khả năng hơn thúc đẩy cơn loạn nhịp là tình trạng mệt mỏi quá mức. Dường như sự xáo trộn về tình cảm cùng với các yếu tố khác như là sự mệt mỏi có thể khiến cho tim dễ nhạy cảm hơn với tình trạng co thắt đột ngột ở động mạch hay bất thường tự phát trong hoạt động của tim.

Nhưng bản thân xúc động đơn thuần không thúc đẩy loạn nhịp tim. Đây là thông tin mang tính chất động viên, an ủi cho bản thân bệnh nhân và gia đình bệnh nhân sau khi được chẩn đoán là bị bệnh tim và trong quá trình hồi phục sức khỏe sau khi bị bệnh tim. Mỗi thành viên trong gia đình không cần phải thận trọng, e dè quá mức và bản thân bệnh nhân cũng không cần phải từ bỏ hẳn cuộc sống hoạt bát cùng với những cảm xúc đi kèm.