Người ta hiểu biết còn ít về cơ chế ảnh hưởng của chế độ ăn đối với ung thư nhưng những biểu hiện trội lên như sau:

  • Rau quả

Kết luận thống nhất của các nghiên cứu dịch tễ học ung thư là trong chế độ ăn hàng ngày có đủ rau quả tươi sẽ giảm nguy cơ đối với hầu hết các loại ung thư. Có ý kiến cho rằng cơ chế của tác dụng bảo vệ đó thuộc về vai trò các chất xơ (đối với ung thư đại tràng).

Gần đây nhiều bằng chứng nêu lên vai trò của acid folic, acid này cần thiết cho tổng hợp thymidin và thiếu folat gây các tổn thương nhiễm sắc thể. Tác dụng đó cũng có thể do vai trò các chất chống oxy hóa (ascorbat, tocopherol, carotenoid, flavonoids) trong rau quả.

 Chế độ ăn hàng ngày có đủ rau quả tươi sẽ giảm nguy cơ đối với hầu hết các loại ung thư

Chế độ ăn hàng ngày có đủ rau quả tươi sẽ giảm nguy cơ đối với hầu hết các loại ung thư

  • Protein

Nhiều nghiên cứu nêu lên mối liên quan giữa sử dụng nhiều protein, đặc biệt protein động vật đối với một số ung thư như ung thư đại tràng, vú, tụy và thận. Tuy vậy do hàm lượng protein trong khẩu phần thường đi kèm với lipid do đó chưa kết luận được vai trò độc lập của protein. Có mối liên quan giữa nguy cơ ung thư đại tràng với sử dụng các loại thịt màu đó giàu chất béo chứ không phải thịt gà ít béo hoặc cá.

>>> Xem thêm: Hiện tượng uống rượu bị đỏ mặt và căn bệnh ung thư thực quảnĐông trùng hạ thảo có thể chữa ung thư hay không?

  • Chất béo

Nhiều công trình nêu lên mối liên quan giữa chất béo động vật đặc biệt các acid béo no đối với ung thư đại tràng; các nghiên cứu trên thực nghiệm cho thấy các chế độ ăn nhiều chất béo kích thích phát triển bệnh ung thư vú và đại tràng. Chất béo trong khẩu phần cũng có các liên quan tới bệnh ung thư tuyến tiền liệt.

  • Năng lượng

Chế độ ăn giàu năng lượng, đậm độ năng lượng cao có liên quan tới sự phát sinh bệnh ung thư tại nhiều địa điểm trong khi đó hoạt động thể lực, tiêu hao năng lượng cao lại làm giảm các nguy cơ đó. Các kết luận về vai trò của đường và glucid phức hợp còn chưa thống nhất.

Chế độ ăn giàu năng lượng

Chế độ ăn giàu năng lượng

  • Rượu

Rượu là một yếu tố nguy cơ đối với nhiều loại bệnh ung thư, đặc biệt ở các cơ quan tiếp xúc với rượu như hốc miệng, thanh quản và cả các cơ quan khác như đại tràng, vú, gan. Rượu tác dụng hợp lực với các nhân tố khác như với thuốc lá làm tăng nguy cơ gây ung thư vòm miệng và thực quản, với allatoxin B; hay viêm gan B trong ung thư gan.

  • Muối

Các nghiên cứu ở Nhật Bản đã chứng minh có mối liên quan giữa sử dụng nhiều muối hoặc các thức ăn ướp muối (cá) với ung thư dạ dày.

Có thể nói các hiểu biết về vai trò các thành phần dinh dưỡng đặc hiệu đối với bệnh sinh ung thư còn chưa đầy đủ và thiếu thống nhất. Ở trình độ hiểu biết hiện nay sự phát hiện thống nhất nhất là sử dụng rau quả tươi làm giảm nguy cơ của nhiều loại ung thư.

  • Một số chất có hoạt tính chống ung thư trong thực phẩm

Các hợp chất alkyl có ở hành, tỏi có tác dụng ức chế sinh các khối u in vitro và giảm mắc ung thư dạ dày trên các nghiên cứu dịch tễ học. Các hợp chất hữu cơ isothiocyanat có nhiều ở các loại rau họ cải bắp có tác dụng ức chế hoạt tính gây ung thư.

Các flavonoid bao gồm flavon, ílavonol, và isoflavon là nhóm chất chống oxy hóa hữu cơ nguồn thực vật có thể có tác dụng chống ung thư. Flavon ở quả chanh có tác dụng ức chế sự phát triển các tế bào ác tính trong môi trường nuôi cấy. Quercetin ở táo là loại flavon được nghiên cứu nhiều, có tính chất ức chế sự phát triển các tế bào ác tính.

Lá chè có các polyphenol bao gồm catechin và flavonol, quinol được tạo thành khi chè bị oxy hóa. Các thành phần đó có tác dụng ức chế hình thành nitrosamin in vitro. Nhiều nghiên cứu quan sát cho thấy sử dụng chè liên quan tới giảm tỷ lệ mắc ung thư.

Đậu tương có nhiều isoflavon có tác dụng ức chế sự phát triển các khối u ở vú.